Than được biết từ rất sớm và việc sử dụng than làm nhiên liệu đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử. Mở đầu là cuộc CMCN 1.0 (từ nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19) với đặc trưng là phát minh động cơ hơi nước sử dụng nhiên liệu than và máy móc dẫn động bằng cơ khí. Tiếp theo là cuộc CMCN 2.0 (từ khoảng thập kỷ 1850 đến cuối thế kỷ 19) với động lực là động cơ đốt trong và máy móc sử dụng điện. Tỷ trọng của than trong cơ cấu sử dụng năng lượng tăng nhanh vào những năm cuối thế kỉ 19 (44% năm 1880 lên 58% năm 1900), đạt cực đại vào đầu thế kỉ 20 (68% năm 1920). Từ nửa sau thế kỉ 20, tỷ trọng của than bắt đầu giảm nhanh, chủ yếu do vì đã có nguồn năng lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên hiệu quả hơn thay thế.
Theo nguồn nghiên cứu năng lượng của Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Thiên nhiên (BGR) và Statistical Review of World Energy năm 2021: Tổng trữ lượng than trên thế giới tính đến cuối năm 2020 là 1.074.108 tỷ tấn, trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực châu Á (459.750 triệu tấn, chiếm 42,8%), Bắc Mỹ (256.734 triệu tấn, chiếm 23,9%), Cộng đồng các quốc gia độc lập – CIS (190.655 triệu tấn, chiếm 17,8%) và châu Âu (137.240 triệu tấn, chiếm 12,78%), tổng cộng 4 khu vực là 1.044.379 triệu tấn, chiếm 97,24%.
Sáu quốc gia có tài nguyên than lớn trên thế giới bao gồm: Hoa Kỳ (248.941 triệu tấn, chiếm 23,18%), Nga (162.166 triệu tấn, chiếm 15,10%), Úc (150.227 triệu tấn, chiếm 13,99%), Trung Quốc (143.147 triệu tấn, chiếm 13,33%), Ấn Độ (111.052 triệu tấn, chiếm 10,34%) và Indonesia (34.869 triệu tấn, chiếm 3,15%), tổng cộng 6 nước 850.402 triệu tấn, chiếm 79,18%% tổng trữ lượng than toàn thế giới.
Trữ lượng than của các nước khu vực Trung Đông, châu Phi và Trung và Nam Mỹ đã phát hiện không lớn
Qua số liệu nêu trên cho thấy, trữ lượng than toàn thế giới còn có thể khai thác trong lâu dài, khoảng 139 năm với mức sản lượng năm 2020 (khoảng 7.727 triệu tấn). Trữ lượng than có tại hơn 70 nước, song phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở một số nước và khu vực. Mặc dù sản lượng than toàn thế giới khai thác mỗi năm trên 7 tỷ tấn, nhưng trữ lượng than ngày càng tăng, từ 1.059.053 triệu tấn năm 2000 đã tăng lên 1.074.108 triệu tấn năm 2020 (xem Hình 2). Điều đó chứng tỏ trong lòng đất vẫn còn tiềm năng tài nguyên than rất lớn.
Trong khi trữ lượng dầu mỏ là 244,4 tỷ tấn, có thể khai thác 53,5 năm với mức sản lượng năm 2020 khoảng 4,6 tỷ tấn, và trữ lượng khí thiên nhiên chỉ 188,1 ngàn tỷ m3, có thể khai thác trong vòng 48,8 năm với mức sản lượng năm 2020 khoảng 3,854 ngàn tỷ m3 [1].
Như vậy, trữ lượng than cao gấp nhiều lần trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên. Vấn đề là do việc sử dụng than phát thải khí nhà kính (KNK) rất lớn nên COP26 có chủ trương giảm và sẽ dừng sử dụng than vào năm 2050 để đạt mục tiêu Net Zero các bon. Nhiều nước đã ủng hộ chủ trương đó, trong đó có Việt Nam. Vậy, thực chất phải xử lý thế nào về vấn đề này?
Thực trạng khai thác, sử dụng và định hướng phát triển ngành than trên thế giới:
Than được phát hiện và khai thác từ rất sớm, từng được coi là nguồn năng lượng rẻ tiền. Thị trường than thế giới đã ra đời sớm hơn và có tính cạnh tranh cao hơn so với thị trường dầu mỏ, khí đốt.
Trước đây than đã đóng vai trò rất quyết định đối với các nền kinh tế phát triển (Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật, v.v…). Đặc biệt, hiện nay là đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ. Đầu thế kỷ 19, than đá chiếm hơn 90% trong cân bằng năng lượng của thế giới. Năm 1971, tỷ lệ này giảm xuống 25,8% và đến 2015, lại tăng lên 28,1%, chủ yếu do tăng cường khai thác, sử dụng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên. Vào năm 2040, dự tính tỷ trọng của than trong cân bằng năng lượng tuy có sự khác biệt, chưa chính xác, nhưng cũng khoảng 25% (theo các kịch bản của IEA trước COP26) [2].
Mặc dù, “tội phạm” của than dẫn tới biến đổi khí hậu (BĐKH) đang được IEA trình diễn, nhiều quốc gia vẫn không thể, hoặc không có các biện pháp để từ bỏ than. Theo số liệu của IEA, tuy “Thỏa thuận Xanh” đang được thảo luận, mức tiêu dùng than đã tăng mạnh ở ngay cả EU do giá than quá rẻ. Vì vậy, trong thời gian gần đây, thị trường than thế giới vẫn tiếp tục được duy trì với quy mô lớn, thậm chí tăng. Đặc biệt, khi phương Tây cấm vận Nga vì tiến hành “Chiến dịch quân sự đặc biệt” ở Ucraina, giá dầu thô, khí thiên nhiên và than đã tăng mạnh.

